1. Trang chủ
  2.  › 
  3. Văn học
  4.  › 
  5. Lý luận - Phê bình

Hải Triều- Nhà lý luận phê bình văn học Mác xít đầu tiên

30/09/2019
Các ý tưởng sống được nhờ những lời bài bác cũng như những lời khẳng định; một tác phẩm tồn tại nhờ sự thù hằn không kém sự ái mộ. F.Nietzsche

Các ý tưởng sống được nhờ những lời bài bác cũng như những lời khẳng định; một tác phẩm tồn tại nhờ sự thù hằn không kém sự ái mộ.

F.Nietzsche

 Hải Triều (1908-1954), sinh ra và lớn lên tại Huế, là người tiếp cận với chủ nghĩa Marx từ rất sớm. Theo Phan Văn Hùm, trong lời Tựa viết cho cuốn sách “Duy tâm hay duy vật” của Hải Triều, thì từ “Năm một ngàn chín trăm hai mươi bảy, ông vào Sài Gòn làm trợ bút cho Kỳ Lân báo, đã dịch đăng Tư bản luận trong hồi chưa mấy ai nghe nói chủ nghĩa xã hội là gi. Bấy giờ ông mới ra trường cao đẳng tiểu học”.Ngoài ra, ông còn cộng tác với các báo chí công khai, hợp pháp thời bấy giờ như Đông phương, Phụ nữ tân tiến, Công luận, Tiếng dân, Hồn trẻ, Mai, Đời mới, Tiểu thuyết thứ Bảy, Tin văn, Dân tiến, Tao đàn tạp chí; chủ trương các báo Nhành lúa, Sông Hương, để tuyên truyền chủ nghĩa Marx và đường lối của Đảng Cộng sản. Tác phẩm đã xuất bản của Hải Triều gồm: Duy tâm hay duy vật (1935), Văn sĩ và xã hội (1937), Chủ nghĩa mác-xít phổ thông (1946), Về văn học nghệ thuật (tuyển tập những bài viết, xuất bản sau khi tác giả qua đời, 1965), Hải Triều toàn tập (1996). Nhưng, có lẽ nổi tiếng nhất là những bài bút chiến của ông với các học giả tiếng tăm đương thời như Phan Khôi, Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Thúc Tề, Thế Anh… gây nên những cuộc tranh luận học thuật sôi nổi nhất trong tiến trình hiện đại hóa của lịch sử văn học nghệ thuật nước ta.

Cuộc tranh luận duy tâm hay duy vật là cuộc đấu tranh tư tưởng – triết học có ý nghĩa quan trọng, đặt nền móng và thiết lập cơ sở quan điểm triết học mác-xít về tư tưởng văn hóa văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã đưa tên tuổi của nhà mác-xít trẻ tuổi Hải Triều vang dội trên chính trường. Sau cuộc khủng bố trắng của thực dân Pháp vào tháng Tám 1933, tư tưởng bi quan, cải lương và văn chương lãng mạn thoát ly đời sống lan tràn và được thực dân khuyến khích. Tâm trạng ấy dội vào tầng lớp trí thức, đến như một cây bút lão luyện trong làng báo, con người tài danh từng mở đầu cho phong trào thơ mới như Phan Khôi, lại viết bài Văn minh vật chất và văn minh tinh thần (Phụ nữ thời đàm, số 4, ngày 8.8.1933), hồn nhiên bộc lộ tâm trạng mặc cảm tự ty và sai lạc về phương pháp nhận thức. Hải Triều đã nắm lấy cơ hội, lợi dụng diễn đàn báo chí công khai, bám sát động thái tư tưởng của Phan Khôi, viết hàng loạt bài phê phán tư tưởng mang màu sắc duy tâm của Phan Khôi, một hệ thống tư tưởng – triết học dù vô tình hay cố ý cũng gây nên ảnh hưởng không tốt trong đời sống tinh thần của nhân dân. Các bài viết của Hải Triều không chỉ xuất hiện trên báo chí ở Huế, mà là báo chí cả nước như Ông Phan Khôi không phải là một học giả duy vật (Đông phương, ngày 20.10.1933), Ông Phan Khôi là một học giả duy tâm (Phụ nữ tân tiến, 1.1934), Từ quyển “Duy tâm và duy vật” đến thuyết biến đổi không dứt (Tiếng dân, số 883, ngày 26.3.1936 và số 891, ngày 2.4.1936), Biện chứng pháp với bình dân Việt Nam cùng ông Thúc Tề ở báo Dân quyền (Mai, số 23, ngày 1.8.1936), Cái gì đã làm cho xã hội tiến hóa? Thượng đế chăng? Những ý tưởng công lý, tự do, nhân đạo, quốc gia chăng? (Hồn trẻ, 1936, viết chung với Hải Thanh) và cuối cùng ông cho in hai cuốn sách, như là tổng kết cuộc tranh luận với ưu thế thắng lợi thuộc về quan điểm của chủ nghĩa duy vật: Duy tâm hay duy vật (Hương Giang thư quán xuất bản, Huế 6.1935) và Chủ nghĩa mác-xít phổ thông (Tư tưởng mới xuất bản, Huế 1938). Cũng nằm trong dòng chảy của phương pháp nhận thức, ông còn tranh luận với Phan Khôi, về vấn đề nước ta có chế độ phong kiến hay không, trong bài khẳng định Trên lịch sử nước ta vẫn có chế độ phong kiến (Công luận, ngày 2 và 3.1.1935). Cuộc tranh luận kéo dài hơn sáu năm trời (1933-1939), kéo theo nhiều chiến hữu thuộc lực lượng thiên tả ủng hộ Hải Triều như Thành Lâm, Hoàng Tân Dân, Phan Văn Hùm, Hồ Xanh, Sơn Trà, Hải Vân, Hải Thanh, Bùi Công Trừng, Ngô Văn Triện… Trước tình hình ấy, Phan Khôi hẳn nhiên là đã gặp quá nhiều bất lợi, một phần là vì không phải là người nắm giữ chân lý, phần khác là vì ông chỉ đơn độc có một mình, đương đầu với sự liên thủ của số đông, đành phải thúc thủ và nhảy sang bàn chuyện nước ta có chế độ phong kiến hay không, hoặc vũ trụ quan của Khổng Tử là duy tâm hay duy vật!

Khi bắt đầu diễn ra cuộc tranh luận, năm ấy (1933) Phan Khôi đã vào tuổi bốn mươi sáu, đã thành danh trên văn đàn, từng tham gia Đông kinh nghĩa thục (1907), từng vào tù ra tội trong phong trào chống thuế (1908), là cộng tác viên đắc lực của hàng chục tờ báo danh tiếng thời bấy giờ như Nam Phong, Thần chung, Hữu thanh, Phụ nữ tân văn, Phụ nữ thời đàm, Đông Pháp thời báo, Tràng an, Đông Tây…và là người mở đầu cho phong trào thơ mới, được học giới tôn vinh là học giả uy tín. Còn Hải Triều lúc ấy chỉ là một chàng trai trẻ mới hai mươi mốt tuổi và chỉ trở nên nổi tiếng sau cuộc tranh luận này. Vì vậy, tuy quyết bám sát từng luận điểm để phản bác lại, không cho đối phương “trốn đâu cho thoát dầu ông có bay tuột lên đám mây xanh mà núp sau cõi siêu hình, tôi cũng quyết kéo ông về cõi đời thực tế” (Ông Phan Khôi là một học giả duy tâm), nhưng vẫn dành cho đối phương sự tôn trọng, hết sức nhã nhặn, khiêm tốn, cảm thông và cũng có phần nể nang: “Ông Phan nên xem bài tôi như lời một người bạn trẻ - trẻ hơn ông chừng ba mươi tuổi (thực ra là trẻ thua hai mươi lăm tuổi - N.V) – nói chuyện về một cái sai lầm nguyên lý (erreur de principe) với một ông già, ông già còn có chút tiến hóa, tiến hóa hơn những ông cụ già khác” (Ông Phan Khôi không phải là một học giả duy vật). Quả thât, với một kiến văn chắc chắn về học thuật và lối viết sinh động, hóm hỉnh, Hải Triều đã khéo léo thực hiện mục đích giới thiệu nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử theo lập trường tư tưởng mác-xít. Hải Triều đã chủ động dẫn dắt cuộc tranh luận không chỉ dừng ở tranh cãi lời lẽ sách vỡ, học thuật thuần túy mà còn kiến tạo nên ý thức chính trị thực tiễn, nhằm vạch trần tư tưởng bi quan, yếm thế, thức tỉnh sự tham gia tích cực của các lực lượng yêu nước, tiến bộ vào cuộc đấu tranh trên mọi lĩnh vực, chống lại sự nô dịch về tư tưởng của chính quyền thực dân phong kiến.

Điều đáng lưu ý là, sau khi Phan Khôi im hơi lặng tiếng, Hải Triều cho in cuốn Duy tâm hay duy vật, trong đó không chỉ in bài của mình, mà in cả bài của đối phương làm chứng lý, để người đọc khách quan thẩm định, phán xét và nhận thấy rõ sự thắng lợi, chân lý thuộc về, không chỉ Hải Triều và những chiến hữu của ông mà còn là của phong trào cách mạng do Đảng lãnh đạo, thắng lợi của lý tưởng cộng sản trên mặt trận văn hóa văn nghệ - một xu thế tất yếu không gì ngăn cản được. Cuốn sách như một sự tổng kết, nằm trong dòng chảy của tư tưởng mác-xít, chia ra làm ba phần với ba cuộc tranh luận nhỏ: một là, tranh luận với Phan Khôi về văn minh vật chất và văn minh tinh thần; hai là, tranh luận cũng với Phan Khôi về nước ta có chế độ phong kiến hay không; ba là, tranh luận với Thiếu Sơn về “Hai cái quan niệm về văn học”. Chính vấn đề thứ ba này đã mở đầu cho một cuộc bút chiến mới giữa hai phái nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh, kéo theo gần bốn mươi tác giả, các nhà học giả hàng đầu của đất nước tham gia, mà Hải Triều, cũng như lần trước, tuy không phải là người mở đầu, nhưng lại là người khai chiến và trở thành chủ soái của phái nghệ thuật vị nhân sinh, thể hiện nhân sinh quan của tư tưởng mác-xít về văn học nghệ thuật.

Cuộc tranh luận diễn ra chỉ trong vòng bốn năm (1935-1939), nhưng là cuộc tranh luận về quan điểm nghệ thuật lớn nhất, có qui mô rộng rãi, tầm vóc đặc biệt, ý nghĩa vô cùng sâu sắc, diễn ra song song và gối đầu với cuộc tranh luận duy tâm hay duy vật, trên báo chí công khai, thu hút sự quan tâm của đông đảo học giới. Thiếu Sơn, người được coi là mở đầu cho khoa học về phê bình văn học với tác phẩm Phê bình và cảo luận vừa ra đời cách đó hai năm (1933), đã khơi mào cho cuộc tranh luận với bài Hai cái quan niệm về văn học (Tiểu thuyết thứ Bảy, số 38, ngày 16.2.1935), đã khơi gợi những quan niệm nghệ thuật đã ươm mầm từ trong những hệ thống quan niệm đã được công bố trên báo chí từ những năm trước, bài báo như một giọt nước tràn ly và cuộc xung đột tư tưởng - nghệ thuật diễn ra là tất yếu. Chỉ khác là, lần này thu hút người tham gia đông hơn (có đến khoảng chín mươi bài viết tham gia), hình thành hai chiến tuyến rõ rệt. Phái nghệ thuật vị nghệ thuật không phải một mình đơn độc như Phan Khôi lần trước, mà hợp nhất thành một nhóm, ngoài sự mở đầu là Thiếu Sơn, đến chủ soái là Hoài Thanh rồi đến Lê Tràng Kiều, Lưu Trọng Lư, Lan Khai, Phan Văn Dật, Tiến Hóa, Đỗ Thị Bích Liên… Đông hơn, là phái nghệ thuật vị nhân sinh, ngoài chủ soái Hải Triều, còn có các tác giả như Hoàng Tân Dân, Phan Văn Hùm, Trần Huy Liệu, Bùi Công Trừng, Trần Đình Long, Sơn Trà, Hồ Xanh, Khương Hữu Tài, Cao Văn Chánh, Hòa Sơn, Hải Vân, Hải Thanh,… thậm chí, còn lôi kéo cả những nhà hoạt động chính trị cùng “phối hợp tác chiến” như Phan Đăng Lưu (ký bút danh là Văn Minh), Lưu Quý Kỳ và Trần Đình Tri (ký là K VÀ T), Lâm Mộng Quang, và bên cạnh đó cũng có các tác giả chuyên nghiệp, không thiên vị bên nào, chỉ khách quan nói theo cái đúng, đã vô tình hay cố ý ủng hộ cho phái nghệ thuât vị nhân sinh như Vũ Trọng Phụng, Hàn Mặc Tử… Hải Triều đã “tả xung hữu đột” với hàng chục lần xung trận, đánh trực diện vào quan niệm sai trái của từng người, phê phán lối văn chương “than mây khóc gió”, đề cao văn chương hiện thực, đấu tranh vì đời sống của nhân loại cần lao: Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh (Đời mới, 24.3.1935, 7.4.1935), Nghệ thuật và sự sinh hoạt xã hội (Tin văn, số 6, ngày 1.9.1935), Nghệ thuật với nhân sinh (Trung kỳ, số 1, ngày 9.10.1935, số 4, ngày 6.11.1935), Văn học và chủ nghĩa duy vật (Sông Hương tục bản, số 8, ngày 26.8.1937, số 9 ngày 2.9.1937, số 10, ngày 11.9.1937), Đi tới chủ nghĩa tả thực trong văn chương: Những khuynh hướng trong tiểu thuyết (Tao đàn tạp chí, số 2, ngày 13.6.1939); thậm chí, không dừng lại ở đó, từ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật, vận dụng vào văn chương nghệ thuật để giải quyết vấn đề cơ bản là chức năng văn chương đối với đời sống xã hội, ông còn mở rộng vấn đề đến việc giới thiệu và khẳng định giá trị nghệ thuật của các tác giả, tác phẩm trong các trào lưu hiện thực Pháp và Việt Nam, hoặc ủng hộ và giới thiệu cả văn học Liên bang Xô-viết cho công chúng, trong đó chủ yếu đi sâu vào thể loại văn học hiện đại còn mới mẻ ở nước ta là tiểu thuyết: “Kép Tư Bền”, một tác phẩm về cái triều lưu nghệ thuật vị dân sianh ở nước ta (Tiểu thuyết thứ Bảy, số 62, 8.1935), “Lầm than”, một tác phẩm đầu tiên của nền văn tả thực xã hội ở nước ta (Dân tiến, số 1, ngày 27.10.1938), Henri Barbusse (1935), Romain Rolland (Hồn trẻ, tập mới, ngày 11.7.1936), Maxime Gorki (Hồn trẻ, tập mới, ngày 4.7.1936), Gỡ một cái lầm cho bọn trí thức tiểu tư sản-văn học của Liên bang Nga Xô-viết (Hồn trẻ, tập mới, 25.7.1936)…. Thông qua cuộc tranh luận, những vấn cơ bản có tính nguyên lý trong chu trình đời sống văn hoc như mối quan hệ cuộc sống - nhà văn - văn học - công chúng, bản chất xã hội và bản chất thẩm mỹ của văn học, nội dung và hình thức tác phẩm, thị hiếu và sự tiếp nhận tác phẩm, kiểu sáng tác và phương pháp sáng tác, tính dân tộc và tính quấc tế…đó là những vấn đề mà cả hai phải đều quan tâm bàn luận sôi nổi. Đó chẳng những là những vấn đề thiết thực nảy sinh từ thực tiễn đời sống văn học mà còn là những vấn đề cốt lõi trong bản chất của nghệ thuật, khiến nhà văn không thể không quan tâm, đồng thời nó có ảnh hưởng trực tiếp đến xu hướng phát triển của thời đại.

Giữa năm 1939, cuộc tranh luận dừng lại vì cuộc chiến tranh thế giới đang đi vào giai đoạn quyết liệt, đe dọa sự sống của toàn nhân loại. Tuy cuộc tranh luận chưa kêt thúc một cách rõ ràng, nhưng những vấn đề mà Hải Triều và những chiến hữu của ông đề ra, tỏ ra có sức thuyết phục, phù hợp với diễn biến khách quan của thực tế xã hội và đời sống văn học hiện đại. Khách quan mà nhìn nhận, trong hệ thống lập luận của Hải Triều vẫn có nhược điểm cần lưu ý, đó là quá coi trọng nội dung tư tưởng của nghệ thuật mà coi thường hình thức nghệ thuật, dễ dẫn đến chính trị hóa nghệ thuật. Quan trọng hơn, nhìn một cách tổng thể, hai thành tựu lớn mà cuộc tranh luận đã gặt hái được đối với lịch sử văn học dân tộc đáng được ghi nhận: một là, hai bên từ hai phái đối lập nhau, dần dần đã xích lại gần nhau, có nhiều chỗ gặp nhau trong quan điểm nhận thức; hai là, cuộc tranh luận còn có ý nghĩa kích thích và soi sáng con đường nhận thức thẩm mỹ, bồi đắp hệ thống tư duy nghệ thuật theo kiểu mới và hình thành hệ thống lý thuyết các bộ môn trong khoa học văn học, đưa đến việc liên tục xuất hiện những tác phẩm như Văn chương và hành động (1936) của Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều, Lưu Trọng Lư, Văn sĩ và xã hội (1937) của Hải Triều, Dưới mắt tôi (1939) của Trương Chính, Việt Nam cổ văn học sử (1941) của Nguyễn Đổng Chi, Thi nhân Việt Nam (1942) của Hoài Thanh, Hoài Chân, Việt Nam văn học sử yếu (1942) của Dương Quảng Hàm… một hiện tượng mà trước và sau đó không hề có trong lịch sử văn học dân tộc, và vì vậy, Đảng ta thấy cần có sự lãnh đạo, uốn nắn để đưa sự phát triển văn học nghệ thuật đúng quĩ đạo của dân tộc, phải cho ra đời Đề cương văn hóa (1943). Không quá đáng khi nói rằng, những nhà lý luận mác-xít, mà nhất là Hải Triều, đã thông qua cuộc đấu tranh, ít nhiều đặt nền móng tư tưởng văn nghệ mác-xit cho sự ra đời Đề cương văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Theo tập "Những chân trời xanh thẳm" Phạm Phú Phong/ NXB Hội Nhà văn, tháng 12/2018

Tin cùng chuyên mục


Logo

Tin tức tổng hợp Kinh tế & đời sống: Thông tin đa chiều

Giấy phép hoạt động trên mạng Internet số: 3135/GP - TTĐT, STTTT Hà Nội cấp ngày 20/6/2019. Giấy phép sửa đổi, bổ sung số: 4876/GP - TTĐT, cấp ngày 08/10/2019.

Chịu trách nhiệm quản lý nội dung: Trần Thị Hạnh

Trụ sở: 99/26 Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội, Việt Nam

Đường dây nóng: 0388308001 - Email: toixkld@gmail.com

Vận hành bởi: Công ty Cổ phần Truyền thông Hạnh Nguyên (Hanh Nguyen CSC)